Thứ Hai, 2 tháng 6, 2014

Ngải Tượng

Ngải Tượng hay củ Bình Vôi !


( Cây Ngải Tượng )

     Cây Ngải Tượng là một loại cây họ tiết dê , mọc leo bám vào vách núi đá hay thân của một cây khác . Phần dưới thân cây phình ra thành củ của cây Ngải Tượng . Cây Ngải Tượng thường mọc trên núi đá , vì vậy cây Ngải Tượng chịu được khô hạn , chỉ cần một lượng nước mưa rất nhỏ là cây có thể duy trì sự sống được . Củ mọc lâu năm phình to có hình dạng không thống nhất giống nhau , củ Ngải tượng thường mọc lộ thiên , vỏ của củ Ngải Tượng có mầu nâu , xù xì . Hình dáng thay đổi , phát triển theo điều kiện môi trường nơi sinh trưởng .


     ( Củ ngải Tượng )

     Từ củ Ngải Tượng mọc lên những mầm thân leo có mầu xanh , tròn nhỏ .



     ( Củ Ngải Tượng bắt đầu ra mầm )

     Lá của cây Ngải Tượng có hình chiếc khiêm , hình bầu dục , hình trái tim hay hình tròn . Đường kính của lá thường to khoảng 8cm đến 10cm nếu gặp chỗ tốt , âm thì lá có thể to hơn một chút . Hoa nhỏ mọc thành những tán nhỏ , hoa của cây Ngải Tượng được chia thành hoa đực , hoa cái .


     ( Hoa của cây Ngải Tượng đực )

     Cây Ngải Tượng đực có tán hoa nhỏ và cuông hoa dài khoảng 6cm – 7cm . Hoa của cây Ngải Tượng cái thì tán hoa to hơn và cuống tán hoa cũng ngắn hơn , quan trọng là hoa cây ngải Tượng cái sau khi thụ phấn thì kết trái thành quả , khi quả chín có mầu đỏ tươi và có một hột hình móng ngựa .


     ( Hoa cây Ngải Tượng cái )




 ( Quả cây Ngải Tượng )


 ( Quả cây Ngải Tượng 2 )




 ( Quả cây Ngải Tượng 3 )

     Cây Ngải Tượng – củ bình vôi thường mọc ở các vùng núi phía Bắc Thanh Hóa , Hòa Bình , Hà Giang , Lạng Sơn ,dẫy Trường Sơn . Đặc biệt ở vùng núi có nhiệt độ thấp như Sa pa- Lào Cai hay Mẫu Sơn- Lạng Sơn cây Ngải Tượng vẫn phát triển tốt . Ở phía Tây Nam vùng Thất Sơn cây Ngải Tượng cũng có mọc nhưng không nhiều như vùng núi miền Trung , miền Bắc .
    - Trong dân gian cây Ngải Tượng được gọi rất nhiều tên : Ngải Tượng , củ Bình vôi , củ Một , củ Mối tròn , củ Tử Nhiên , củ Cà Tom … Vì vậy công dụng dùng để chữa bệnh trong đông y cũng rất phong phú . Trong dân gian cách chữa bệnh bằng củ Bình Vôi chữa trị được rất nhiều bệnh . Bằng cách thái lát đem phơi khô dùng để sắc nước uống hay ngâm rượu dùng để chữa hen , ho lao , lỵ , sốt , đau bụng . Ngâm rượu uống thì rất tốt cho những người kém ngủ được .


     ( củ Ngải Tượng )

    - Trong tây y thì trong củ Ngải Tượng có chiết xuất được một số hóa chất được dùng để điều chế ra một số thuốc chữa bệnh điều hòa tim và bổ tim nhẹ . Điều hòa hô hấp , ngoài ra có tác dụng an thần , gây buồn ngủ và hạ huyết áp .
     Về mặt huyền thuật cây ngải Tượng cũng được các Ngải Sư sử dụng rất linh hoạt trong lĩnh vực Ngải thuật do cây Ngải Tượng sống được nhiều năm ( khác với các củ của cây ngải khác họ gừng , giềng là chỉ một năm hay nhiều là 2 năm các củ già sẽ thối chết đi , sinh trưởng ra những củ nonđẻ duy trì giống .) Vì cây Ngải Tượng phát triển và lớn dần theo thời gian , sống được nhiều năm như vậy nên các ngải Sư cũng luyện những chậu Ngải Tượng được nhiêu khóa luyện có thể là 21 ngày , 49 ngày hoặc 100 ngày .
    - Khi luyện một chậu Ngải Tượng :


     ( Đàn luyện Ngải cây . )

    Qua những khóa luyện 21 ngày , 49 ngày , 100 ngày trước đàn thờ luyện Ngải thì cây Ngải Tượng có thể sử dụng được trong việc gọi người bỏ nhà đi trở về . Khi muốn gọi một ai đó về thì các Ngải Sư thường viết họ tên , tuổi của người cần gọi vào một tờ giấy rồi đem đặt ở dưới đít chậu ngải ( có ảnh của người đó càng tốt ) . Sau đó vào giờ Dậu hàng ngày Ngải Sư sẽ thắp 1 nén nhang cắm vào chậu ngải Tượng rồi đọc chú thỉnh Tổ Ngải , chú trục người về . Sau khi đã gọi được người về thì phải lấy tờ giấy ghi tên , tuổi và ảnh ( nếu có ) của người được gọi về ra khỏi đít chậu ngải , hủy đi .
     -Do cây Ngải Tượng đa phần sống và phát triển ở vùng núi non sâu , hiểm trở nên có tính linh của Sơn Thần . Càng sống lâu năm trong núi sâu hiểm trở thì thần tính càng mạnh mẽ và có dáng dấp oai hùng của Sơn Thần ( vì vậy dáng hình của củ Ngải Tượng cũng đa dạng không giống nhau , nhiều củ có hình dáng kì dị , cổ quái ) . Trong đêm tối trông rất hung dữ , vì vậy cây ngải Tượng còn được luyện thành những cây Ngải dùng để trông nhà giữ của cho gia chủ rất tốt như một số loại ngải Hổ .


     ( Củ Ngải Tượng lâu năm )

     -Nếu cây Ngải tượng được luyện nhiều khóa luyện trong thời gian nhiều năm thì các Ngải Sư có thể dung chậu Ngải tượng này để gọi các Ông Mãnh ( người chết khi còn quá trẻ ) về đẻ sai bảo , điều động họ làm một việc gì đó .

     -Ngoài ra củ của cây ngải Tượng còn dùng được trong hội Ngải . Nếu dùng trong hội Ngải thì Ngải Sư phải vào Núi tìm cho được một củ Ngải Tượng sống lâu năm , càng già càng có công hiệu cao , mang về nhà để dùng . Củ Ngải Tượng này không phải luyện gì cả , sau khi luyện Ngũ Hành Ngải đủ 100 ngày xong thì đem kết hợp một số loại Ngải lại để tinh luyện . Tùy theo sự tinh luyện của Ngải Sư mà sản phẩm Ngải Hội được sử dụng trong lĩnh vực tình cảm yêu đương Nam Nữ hay chiếm được tình cảm của khách hàng trong lĩnh vực thương mại , buôn bán làm ăn cũng rất hiệu quả . Ngoài ra trong lĩnh vực ngoại giao , giao tiếp cũng rất hữu hiệu .

Thứ Hai, 26 tháng 5, 2014

Các câu chuyện về thế giới bùa ngải

CÂU CHUYỆN THỨ 3:

Thần giữ của

Những năm đầu của thế kỷ 20 đất nước ta còn bị đô hộ của thực dân Pháp
. Thời gian này người Hoa làm ăn , buôn bán và cư ngụ ở Việt Nam cũng
rất nhiều. Sau một thời gian dài buôn bán làm ăn các thương gia này
cũng có một gia sản kếch sù , nhất là ở miền Bắc Việt Nam . khối gia
sản này ngày càng phình ra , dù muốn hay không thì những gia đình
người Hoa này phải tính tới chuyện cất giấu ở tại Việt Nam , chứ không
thể mang về bên Trung Quốc được . Thời gian này thực dân Pháp cùng
chính quyền sở tại bắt đầu có những chính sách sưu cao thuế nặng đổ
dồn lên đầu người dân Bắc bộ mục đích nhằm vơ vét của cải vật chất để
phục vụ cho quân đội viễn chinh của Pháp ở Đông Dương . Vì vậy những
người Hoa đã bắt đầu tìm cách chôn giấu vàng , bạc châu báu để đề
phòng có những biến cố của cuộc chiến tranh xẩy ra . Những thương lái
này đã về bên Trung Quốc tìm những Thầy Phù Thủy , Pháp Sư thật giỏi
để nhờ các Thầy này tìm những địa điểm và cách thức làm những hầm cất
giấu của cải mà họ đã kiếm được .

     Do bên Trung Quốc có nhiều môn phái nên cũng có rất nhiều cách
giấu của khác nhau , nhưng nhìn chung các cách giấu này còn phụ thuộc
vào các vùng miền . Theo địa hình , địa lý mà các Thầy có những cách
giấu phù hợp . Ở miền đồng bằng , thường thì các Pháp Sư sẽ làm những
ngôi mộ giả . Ngôi mộ này được xây sâu dưới lòng đất , trong đó có một
chiếc quan tài chứa đựng vàng bạc ngọc ngà … Bên cạch xây một bệ gạch
đủ đặt được một chiếc ghế , xung quanh ghế có đèn nến , một cốc nước
và một mâm đồ cúng . Cùng với số vàng bạc , châu báu này các Pháp Sư
còn chôn sống một cô gái còn trong trắng , trinh nguyên  và cũng rất
xinh đẹp để khi người con gái này chết đi thì sẽ là Thần giữ của cho
gia đình của thân chủ mình

     Ở miền núi thì cũng có nhiều cách cất giấu , ngoài cách giấu bằng
lăng mộ thì các Pháp Sư còn lợi dụng những hang sâu , động lớn đường
đi lên hang động vô cùng hiểm trở và treo leo . Các Pháp sư người Hoa
đã lợi dụng sự tối tăm của hang động để giấu của cải . Cách giấu này
cũng đơn giản và không cần tới Thần giữ của mà chỉ tạo ra sự không ngờ
tới của mọi người mà thôi . Các Pháp Sư đem gói vàng bạc thành từng
gói nhỏ , rồi đem gắn lên trần hang bằng một thứ nhựa keo như si rồi
phủ kín tất cả số của cải cũng bằng một lớp keo nhựa đó thật dầy .
Ngụy trang thật khéo sao cho mọi người dù có vô tình vào hang cũng
không phát hiện ra điều gì khác lạ .

    Còn có những cách giấu vừa như phô bầy ra trước mắt nhưng lấy được
của không hề đơn giản chút nào , thể hiện được sự thông minh của các
Pháp sư thời bấy giờ . Tất cả vàng bạc được đem giấu vào trong lòng
núi bằng một khe nhỏ , bên ngoài cho tạc những tấm bia đá bằng chữ Hán
, trong đó ẩn chứa những câu chú , để sau này con cháu của họ tới biết
cách mà lấy của mang về .

     *Những mẩu chuyện về cách làm bùa phép trong việc “ Thần “ giữ của :

   Thôn Hòa Sơn nằm cách đường quốc lộ 1 khoảng 5km sát chân của dẫy
núi Trường Sơn hùng vĩ . Một làng quê nhỏ thuộc tỉnh Ninh Bình có hơn
200 nóc nhà , cuộc sống tại làng quê này thật là bình lặng . Trong
làng có gia đình ông Mão , hai ông bà có được 8 người con 5 trai , 3
gái . trong số những người con này có cô con gái thứ 3 là đẹp người và
tốt nết , đã có rất nhiều chàng trai lân la để tìm hiểu . Có một bà
mai mối sau một thời gian tìm hiểu kỹ càng , cặn kẽ về con người cũng
như về tính nết , quan hệ bạn bè của cô gái . Rồi một hôm bà mối sang
nhà ông Mão làm mai cô con gái thứ 3 con ông Mão cho một người quen ở
xã bên . Người này tuy có hơi lớn tuổi một chút nhưng được cái là gia
đình có nền kinh tế rất giầu có , nhà cửa rộng lớn , vườn ruộng rất
nhiều , chỉ mỗi một điều người này lại là người Hoa . Đã định cư ở xã
bên cũng khá lâu rồi . Gia đình ông Mão cũng muốn gả con gái mình vào
một gia đình khá giả để con mình đỡ vất vả , nhưng hai cụ cũng đã từng
nghe nhiều chuyện về những người Hoa kiều lấy vợ trẻ đẹp còn trong
trắng trinh nguyên về rồi đem làm Thần giữ của thì lại lo ngại . Nhưng
cô con gái đã bước sang tuổi 17 rồi , sau khi vợ chồng ông Mão bàn
tính cụ thể cùng với 2 anh con trai lớn . Ông Mão đồng ý gả cô con gái
cho người Hoa ở xã bên . Đám cưới được tổ chức linh đình sau đó ít hôm
, hàng vài chục mân cỗ cưới được gia đình ông Mão làm để mời bà con
xóm làng tới chia vui cùng gia đình 2 ông bà

     Theo như đã thỏa thuận trước ở nhà , sau 3 ngày Ông Mão không
thấy cô con gái và con rể về thăm lại nhà . Ông cho người con trai cả
sang xã bên để thăm dò xem có chuyện gì đã xẩy ra . Khi sang tới nhà
của người em rể thì anh thấy cổng nhà em rể đóng kín , hỏi thăm hàng
xóm xung quanh thì được biết là gia đình họ đã đi đâu đó , có người
thì nói họ về quê ở bên Trung Quốc ngay ngày hôm sau đám cưới . Anh
con trai vội vàng về nhà thông báo lại cho bố mẹ và các em biết . Thấy
có gì không bình thường và lành ít dữ nhiều . Ông Mão cùng 3 người con
trai lớn vội vàng sang xã bên , ông dặn 3 người con trai chia nhau đi
ra những bãi nghĩa trang , những cánh đồng quanh làng để tìm xem có
ngôi mộ nào mới được chôn cất không . Còn ông tới nhà con rể xem lại
xem có động tĩnh gì không , sau khi biết chắc là trong nhà không còn
người nào thì ông đi hỏi thăm những nhà lân cận để tìm hiểu cho rõ
ràng , ngoài ra ông còn hỏi thăm xem trong làng gần đây có ai chết
không ? Sau một ngày đi tìm hiểu mấy bố con ông cũng thu được những
kết quả : gia đình nhà con rể đi về Trung Quốc một cách đáng ngờ ,
trong làng mấy ngày gần đây không có ai chết cả nhưng cac con ông lại
tìm thấy có một ngôi mộ mới được xây đắp , nhin qua cũng biết là của
một gia đình khá giả người Hoa . Thế là ngay trong đêm hôm đó ông Mão
cùng mấy người con trai lặng lẽ mang cuốc xẻng tới để khai quật ngôi
mộ đó . Khi đào xuống được hơn 1 mét thì họ phát hiện được một cửa hầm
nhỏ , khi phá cửa hầm mọi người rất ngạc nhiêu vì thấy có ánh sáng le
lói ở trong lòng ngôi mộ . Khi một người anh chui vào được bên trong
hầm mộ , anh sửng sốt trước mặt anh là một người con gái mặc quần áo
trắng , chân tay bị trói vào chiếc ghế , mắt bị bịt bởi một dải lụa
trắng , mồn được ngậm một củ sâm . Xung quanh chiếc ghế có 4 ngọn đèn
dầu , trước mặt là 1 mân đồ cúng gồm 1 con gà , 1 đĩa xôi , hoa quả và
rất nhiều tiền vàng mã . Trước mặt cô gái là chiếc quan tài chứa đựng
vàng bạc ngọc ngà châu báu mà chủ nhà đã cất dấu vào đó . Người anh
vội cởi trói và bế em gái ra ngoài , lúc này cô gái cũng đã lả đi .
Sau khi cứu được cô con gái , ông Mão bảo các con lấp lại cho ngôi mộ
được tử tế rồi mọi người đưa cô gái về nhà chăm sóc . Mấy ngày sau khi
sức khỏe đã dần hồi phục cô gái kể lại :

    -Sau khi đón dâu về tới nhà trai , các thủ tục lễ bái gia tiên bên
họ nhà trai được tiến hành rất kỳ lạ mà cô gái không hiểu được . Tất
cả đều làm theo sự sắp đặt của một ông thầy cúng , sau đó cô dược đưa
về một căn phòng được trang hoàng sáng sủa và sạch đẹp , cô không được
tiếp xúc với ai mà chỉ có 2 cô người hầu luôn kè kè bên cạnh . Tối hôm
đó cô được đưa đi tắm nước lá thơm sạch sẽ và được thay mặc một bộ áo
quần bà ba mầu trắng tinh rồi cô được dẫn về phòng ngủ . Cô nằm thiêm
thiếp ngủ sau một ngày căng thẳng và mệt nhoài vì những lễ nghi của
một đám cưới , đang mơ mơ màng màng cô bỗng giật mình tỉnh giấc khi
căn phòng bừng sáng trưng ánh đèn . Cô bị người ta cho ngậm một củ sâm
rồi bịt mồm lại , cô được đặt ngồi vào một chiếc ghế , bị bịt mắt và
trói chân tay vào chiếc ghế đó . Cũng từ đây cô không biết được chuyện
gì đã xẩy ra nữa . Cũng may là gia đình đã tới cứu cô kịp thời .

    *Cũng trong gần khu vực này , đi vào sâu phía trong dẫy núi có một
làng sinh sống gần một quả núi đơn lẻ có tên gọi là núi Tháp . Núi
Tháp là một ngọn núi không cao lắm , một phía của ngọn núi này có vách
đá khá dựng đúng . Có một gia đình người Hoa sống ở khu vực gần đó ,
không hiểu vì lý do gì mà nhà buôn này đã thuê một người thợ điêu khắc
đá là người Hoa về đây , trèo lên vách núi Tháp để tạc lên đó 2 tấm
bia đá . Mọi người cho rằng đó là 2 tấm bia khắc chữ Hán có nội dung
gì đó , cũng có người cho rằng 2 tấm bia đó khắc những dòng chữ có nội
dung khi đọc hiểu và chắp nối giữa 2 tấm bia đó thì sẽ biết chỗ giấu
của cải của gia đình người hoa này . Đồn rằng có một lần có một người
khách vãng lai không rõ ở đâu đi qua vùng này nghe đồn về 2 tấm bia đá
này . Sau khi tìm hiểu ông đã trèo lên trên vách núi đá để đọc dịch 2
tấm bia đá đó , ngặt một nỗi ông khách này đọc dịch được gần hết những
dòng chữ trên đó , nhưng còn một chữ duy nhất cuối cùng thì ông đọc
được nhưng không hiểu được nghĩa của chữ đó dùng để ghép cùng toàn bộ
nội dung 2 tấm bia đó lại . Sau cả ngày trời ngồi suy nghĩ mà ông ta
không hiểu được nghĩa đúng của từ này , cuối cùng ông ta đành phải ra
về dù biết đó là nơi giấu của cải của một gia đình người hoa nào đó .
Rồi bẵng đi một thời gian khá lâu , lại có một người lạ từ nơi khác
tới vùng núi Tháp này . Từ xa ông ta nhìn thấy 2 tấm bia đá nằm ở lưng
chừng núi , biết là có điều bí ẩn gì ở 2 tấm bia đá đó nên ông ta đã
trèo lên trên đó để xem có gì trên đó ? Ông là người rất giỏi tiếng
Hán Trung và cũng giỏi về thuật ngữ bùa chú , phong thủy nên ông ta đã
đọc và cắt nghĩa từng câu , từng chữ trên từng chiếc bia đá , rồi ông
dịch , ghép những nghĩa của các câu đó lại thành một câu chú . khi vừa
đọc dứt câu chú đó thì tự nhiên ở khe đá nhỏ giữa 2 tấm bia đó có một
đàn lợn có 7 con chạy ra . Ông biết mình đã đọc đúng câu thần chú đã
ẩn trong nội dung của 2 tấm bia đá đó nên Thần núi , Thần giữ của đã
thả đàn lợn ra cho ông bắt lấy một con . Đàn lợn cứ chạy vòng xung
quanh chân ông , chạy đầu là một con lợn to khỏe nhất đàn , chạy cuối
đàn là một chú lợn bị què một chân nó cứ như ngã vào người ông , nhưng
ông không để ý , cứ mải đuổi vồ con lợn to nhất đàn . Rủi thay ông
khách cứ mải đuổi mà không tài nào vồ được con lợn to , được một lúc
thì đàn lợn chạy chui lại khe đá . Lúc này ông khách quay lại để vồ
bắt chú lợn què nhưng ôi thôi chú lợn què cũng đã chui vào khe đá rồi
, ông chỉ kịp nhìn thấy ánh vàng lóe lên từ con lợn què đó hắt ra .
Bấy giờ ông mới té ngã ngửa ra đó là một đàn lợn vàng , vì ông tham cứ
đuổi bắt con lợn to nhất đàn nên đã sôi hỏng bổng không . Ông tiếc
ngẩn người vì một chút lòng tham của mình . Cũng từ đó có rất nhiêu
người đã tới đây vì muốn lấy được của đã đọc , dịch nội dung 2 tấm bia
đá này nhưng cho dù có đọc đúng và dịch đúng , chính xác thì không ai
có được may mắn gặp được đàn lợn chạy từ khe núi ra nữa . Mọi người
cho rằng gia đình người Hoa kia đã bí mật sang và đã lấy của mang về
Trung Quốc từ lúc nào đó rồi .